Home » Báo Cáo Dẫn

Báo Cáo Dẫn

Báo cáo mời 1

Các thách thức khi triển khai Smart City tại Việt Nam

Ông Nguyễn Trung Chính, Tập đoàn công nghệ CMC

Tóm tắt: Hiện nay, trên thế giới hoạt động đầu tư vào quá trình phát triển, hiện đại hóa rất mạnh mẽ với 250 thành phố trên toàn cầu có kế hoạch phát triển thành phố thông minh, thị trường toàn cầu trong lĩnh vực này đạt 1.5 nghìn tỷ USD vào năm 2020, chiếm 38% tỷ trọng kinh tế số. Việt Nam có khoảng 800 đô thị, tốc độ đô thị hóa cao 37,5% vào năm 2015. Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa đã kéo theo không ít những thách thức tại Việt Nam điển hình như: sự gia tăng về dân số kèm theo tình trạng dân số già, các vấn đề về môi trường, xu thế cắt giảm ngân sách, các vấn đề sức khỏe, y tế và sự phát triển bền vững… Tất cả những thách thức đó đã tạo áp lực buộc quá trình đô thị hóa phải điều chỉnh để tiến tới hình thành một thành phố đáng sống hơn, phát triển bền vững hơn. Quá trình dịch chuyển này sẽ làm cho đô thị trở nên thông minh hơn. Tại Việt Nam thành phố thông minh đã bắt đầu được chú trọng, một loạt thành phố đã triển khai đề án với sự tham gia của hơn 50 doanh nghiệp, cơ quan nhà nước; và thu được một số thành công bước đầu tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Tuy nhiên các đề án còn riêng lẻ, đã đặt ra yêu cầu liên kết khi triển khai một cách tổng thể trên toàn quốc. Với sự phát triển của công nghệ dành riêng cho Smart City như Internet of Things, các công nghệ kết nối mới như 4G, 5G, LPWAN, RFID, (ứng dụng trong trạm thu phí không dừng/ điện), sự phát triển của AI và các công nghệ khác, chúng ta cần nhanh chóng cập nhật để có một hiểu biết chung nhằm biến Smart City thành lợi thế về cả kinh tế và xã hội cho đất nước.Tuy nhiên để đạt được điều này, một số thách thức đặt ra và sẽ cần được giải quyết. Đầu tiên là sự thiếu đồng bộ về các tiêu chuẩn đánh giá, xây dựng cho Smart City khiến cho việc xây dựng một bản kế hoạch tổng thể cho Smart City trở nên khó khăn, việc thực hiện các cấu phần của Smart City trở nên tự phát và thiếu tính liên kết dài hạn. Hệ quả dẫn đến là sự phân mảnh dữ liệu thông tin, dẫn đến việc phối hơp đa ngành, đa lĩnh vực trở nên khó khăn, gây gia tăng chi phí vốn và giảm hiệu quả hoạt động của Smart City.  Bên cạnh đó cũng cần có sự phối hợp giữa các bên nhà nước, doanh nghiệp nhằm huy động hiệu quả nguồn lực sẵn có và giúp đẩy nhanh tốc độ triển khai và giảm áp lực vốn cho chính quyền đô thị. Đặc biệt trong việc xây dựng các hạ tầng như kết nối cho Smart City, đòi hỏi nguồn lực lớn. Đến năm 2020 dự kiến nhu cầu thị trường cần 100.000 kỹ sư chất lượng cao. Song song với việc lên kế hoạch xây dựng kế hoạch và triển khai Đô thị thông minh, việc truyền đạt thông tin để gia tăng sự hiểu biết và ủng hộ của người dân là hết sức quan trọng. Vì sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, việc Smart City giải quyết các bài toán thực tế như thế nào mới là thước đo sự thành công của Smartcity. Đối với các doanh nghiệp ICT nói chung, nhằm hỗ trợ nhà nước trong việc xây dựng Smart City, các công ty Viễn thông có thể cung cấp hạ tầng về kết nối cho IoT, đặc biệt là các công nghệ kết nối mới. Song song đó là mở rộng các cơ sở hạ tầng có sẵn để phát triển kinh tế số như Data Center – Trung tập dữ liệu tập trung, triển khai các dịch vụ điện toán đám mây hiệu suất cao Cloud Service đáp ứng nhu cầu càng gia tăng. Các công ty cung cấp dịch vụ CNTT và phần mềm sẽ tìm cách tự mình xây dựng các giải pháp thông minh nhưng không loại trừ việc học hỏi, phối hợp với các hãng quốc tế để triển khai các giải pháp/ ứng dụng giải quyết các vấn đề của thành phố ngay trước mắt. Cuối cùng trước khi có được thành phố thông minh, chúng ta phải đảm bảo có một thành phố an toàn. Trong thời đại CNTT có sức ảnh hưởng ngày càng lớn đến đời sống và công việc, việc đảm bảo an ninh an toàn thông tin luôn là một bài toán tất yếu cần được lưu ý giải quyết. Với những thách thức và cơ hội đến từ Smart City, việc đầu tiên và quan trọng đó là giải quyết tình trạng thiếu nguồn nhân lực để đáp ứng 100.000 kỹ sư vào năm 2020. Do đó ngay từ bây giờ cần phát triển nguồn nhân lực CNTT với các định hướng như: Đào tạo theo xu hướng CN mới; Tăng chỉ tiêu sinh viên ICT trong các trường ĐH; Khuyến khích Doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo. Thứ hai là đẩy mạnh các chương trình hợp tác công tư theo hình thức PPP để doanh nghiệp có thể dễ dàng tham gia và hỗ trợ thành phố trong việc giải quyết các vấn đề thực tế trước mắt và trong tương lai nhằm xây dựng Smart City một cách đúng nghĩa. Chính phủ nên giao tư nhân tham gia các dự án về CP điện tử, TP thông minh và các dịch vụ công theo mô hình PPP nói trên, đồng thời loại bỏ các phân biệt đối xử và thiếu công bằng giữa DN tư nhân và DN nhà nước trong giao thầu các dự án về CNTT. Trong bài nói này, tôi tập trung vào việc xây dựng phát triển hệ sinh thái dữ liệu mở dựa trên nền tảng công nghệ Internet vạn vật.

File toàn văn bài nói: CMCN 4 0_Digital Transform.V4

Tiểu sử: Ông Nguyễn Trung Chính hiện đang là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ CMC. Ông là một trong hai thành viên sáng lập và đóng vai trò trụ cột quan trọng nhất đưa CMC từ một Công ty tin học 20 thành viên vào năm 1993 trở thành Tập đoàn Công nghệ hàng đầu tại Việt Nam với 2.000 Cán bộ nhân viên cùng doanh thu lên tới 163 triệu USD vào năm 2016. Từ năm 1988 đến năm 1993, ông là cán bộ nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Công nghệ quốc gia (NACENTECH). Năm 1993, ông cùng ông Hà Thế Minh – Cố Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghệ CMC rời NACENTECH và thành lập công ty tin học. Từ năm 1995 đến 2011, ông Chính cùng các cộng sự lần lượt thành lập các công ty thành viên quan trọng của CMC như CMC SI Hà Nội, CMC Software, CMC P&T, CMC, CMC Ciber, CMC Infosec, CMC Telecom, CMC SI Sài Gòn. Năm 2000, ông được vinh danh là Doanh nhân Sao đỏ. Năm 2004, ông vinh dự nhận Huân Chương Lao động Hạng 3 do Nhà nước trao tặng. Đồng thời, ông cũng nhận các giải thưởng: Doanh nhân Việt Nam xuất sắc năm 2008 và lọt Top 50 nhà Lãnh đạo Doanh nghiệp xuất sắc năm 2014 – năm 2015 cùng rất nhiều bằng khen và giải thưởng của Nhà nước và các tổ chức vì những đóng góp cho ngành Công nghệ Thông tin – Truyền thông nói riêng và xã hội nói chung. Năm 2016, ông Chính được bầu giữ chức Phó chủ tịch Vinasa nhiệm kỳ 2016 – 2020. Tập đoàn Công nghệ CMC là một trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu tại Việt Nam có hơn 23 năm hình thành và phát triển với 10 công ty thành viên, hoạt động trong bốn hoạt động kinh doanh chính: Tích hợp Hệ thống, Dịch vụ Phần mềm, Dịch vụ Viễn thông, Sản xuất và Phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin. CMC đã xây dựng và phát triển môi trường làm việc chuyên nghiệp cho 2.000 nhân viên và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh như: Top 2 công ty công nghệ thông tin tại Việt Nam, Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam


Báo cáo mời 2

Xây dựng thành phố thông tin tại TP. Hồ Chí Minh: góc nhìn từ công nghệ Internet vạn vật (IoT)

TS. Lê Quốc Cường, Sở Thông Tin và Truyền Thông TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Đề án xây dựng TP HCM thành đô thị thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025, đã chính thức được công bố vào chiều ngày 26/11/2017. Mục tiêu của đề án là giải quyết các vấn đề của thành phố như: dân số tăng nhanh; kinh tế tăng trưởng nhưng chưa bền vững; công tác dự báo, quy hoạch và điều hành còn bất cập; y tế, giáo dục, giao thông, môi trường, hành chính công… phục vụ người dân chưa tốt. Và bốn mục tiêu của bốn mục tiêu của đô thị thông minh là quản trị đô thị hiệu quả trên cơ sở dự báo; nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc; tăng sự tham gia quản lý của người dân, tổ chức. Hướng tiếp cận giải quyết các vấn đề trên bao gồm: sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên tối ưu, xây dựng kho dữ liệu dùng chung và phát triển hệ sinh thái dữ liệu mở. Trong bài nói này, tôi tập trung vào việc xây dựng phát triển hệ sinh thái dữ liệu mở dựa trên nền tảng công nghệ Internet vạn vật.

Tiểu sử: Ông Lê Quốc Cường tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Viễn thông quốc gia Saint Peterburg, Liên bang Nga vào năm 1996. Từ năm 1996 đến năm 2004, ông công tác tại Xưởng Viễn thông, Trung tâm Viễn thông khu vực 2. Từ năm 2004 đến năm 2012, ông là Phó Giám đốc Học viện, phụ trách Cơ sở TP. HCM, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Kể từ năm 2012 đến nay, ông là Phó Giám đốc Sở, Sở Thông tin và Truyền thông TP. HCM. Hướng nghiên cứu của ông bao gồm: mạng quang và các công nghệ thông tin vô tuyến tiên tiến, gần đây là công nghệ IOT để phát triển thành phố thông minh. Ông Lê Quốc Cường đã thực hiện rất nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng trên mạng lưới và được giải thưởng khoa học công nghệ của Việt Nam. Ông là một trong những thành viên của tổ soạn thảo đề án thành phố thông minh của TP. Hồ Chí Minh.


Báo cáo mời 3

Những giới hạn cơ bản và mã hoá cho những kênh truyền Gauss và phi Gauss cộng tính

TS. Trần Hữu Nghị, Đại học Akron, Mỹ

Tóm tắt: Trong nhiều mô hình kênh truyền, kênh nhiễu Gauss trắng cộng tính (AWGN) đã được sử dụng rộng rãi để mô hình hoá nhiễu cộng tại các thiết bị thu. Trong vài thập niên qua, nhiều kỹ thuật trong truyền thông số đã được phát triển nhằm đảm bảo việc truyền tin tin cậy hơn trên kênh AWGN. Những kỹ thuật này bao gồm cả nghiên cứu lý thuyết thông tin và những mô hình điều chế/ mã hoá kênh/ mã hoá nguồn thực tế. Cho đến nay, nhiều giải pháp hiệu quả đã được đưa ra, và những kết quả đạt được có thể xây dựng nền tảng lý thuyết và thực nghiệm hỗ trợ cho việc thiết kế những hệ thống truyền thông hiện đại. Mặc dù mô hình kênh AWGN hữu dụng trong việc phân tích và đánh giá hiệu năng của các hệ thống truyền thông, tuy nhiên mô hình này chưa tính đến những sự tác động khác xuất hiện trong môi trường. Ví dụ như giao thoa xung động phi Gauss (non-Gaussian) từ các burst xung ngẫu nhiên xảy ra trong khoảng thời gian ngắn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và độ tin cậy của nhiều hệ thống truyền thông hiện đại như các hệ thống PLC (Power line communications), DSL (Digital Subscriber lines), vô tuyến khả tri (cognitive radio), truyền thông vô tuyến đô thị và trong nhà, thông tin liên lạc dưới nước, v.v. Hơn nữa, sự giao thoa phi Gauss này cũng xuất hiện trong các hệ thống âm thanh, hình ảnh và video. Cho đến nay, những mô hình kênh giao thoa phi Gauss vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ từ cả lý thuyết lẫn thực tiễn.

Bài thuyết trình này sẽ giới thiệu về lý thuyết thông tin và mã hoá cho kênh AWGN, cũng như những hướng nghiên cứu mới đây liên quan đến kênh truyền phi Gauss. Phần thứ nhất của bài thuyết trình sẽ trình bày về lý thuyết thông tin và những thiết kế mã cho kênh AWGN. Trong tâm chính của phần này là giới thiệu về dung lượng kênh Shannon và sự phát triển của mã hoá sửa lỗi từ những mã khối đơn giản nhất (như mã Hamming) cho đến những bộ mã tiệm cận tới giới hạn Shannon vừa được đưa ra gần đây. Hơn thế nữa, hiệu năng và độ phức tạp của những phương pháp mới liên quan đến mã hoá kiểm soát lỗi trên kênh AWGN, trong vài thập niên qua, cũng sẽ được thảo luận. Phần thứ hai của bài nói sẽ giới thiệu tổng quan về lý thuyết thông tin và mã hoá trên các kênh truyền phi Gauss và phi tuyến tính, đặc biệt với những kênh giao thoa xung động, và những kênh lượng tử với độ phân giải thấp. Cuối cùng, những thảo luận về các vấn đề liên quan và hướng nghiên cứu tương lai liên quan đến những kênh truyền này sẽ được trình bày.

Tiểu sử: GS. Trần Hữu Nghị tốt nghiệp đại học năm 2002 tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, hoàn thành chương trình cao học và luận án tiến sỹ chuyên ngành kỹ thuật điện tử và máy tính vào các năm 2004 và 2008 tại Đại học University of Saskatchewan, Canada. Từ 05/2008 đến 07/2010, GS Nghị nghiên cứu sau tiến sỹ tại Đại học McGill. Từ 08/2010 đến 07/2011, GS Nghị làm việc tại Đại học McGill với công việc chuyên viên nghiên cứu. Từ 08/2011, GS Nghị giảng dạy và làm việc trong khoa kỹ thuật điện tử và máy tính, tại Đại học Akron, Hoa Kỳ. Hướng nghiên cứu của GS Nghị bao gồm các lĩnh vực về xử lý tín hiệu và truyền thông, lý thuyết thông tin cho những mạng và hệ thống vô tuyến. GS Nghị hiện là thành viên trong ban biên tập của các tạp chí quốc tế như: IEEE Transactions on Communications, IEEE Communications Letters, Elsevier Physical Communication, và đứng đầu ban biên tập viên cho số mời (Special Issue) của tạp chí EURASIP Journal on Wireless Communications and Networking, với chủ đề “Full-Duplex Radio: Theory, Design, and Applications”. GS Nghị đã từng là thành viên TPC của rất nhiều hội nghị quốc tế của IEEE. Ông từng là đồng chủ toạ của hội thảo “Trusted Communications with Physical Layer Security” tại hội nghị IEEE GLOBECOM năm 2014, là chủ toạ phát hành của hội thảo “Full-Duplex Communications for Future Wireless Networks” của Hội nghị IEEE ICC năm 2017, Hội nghị IEEE GLOBECOM năm 2017, và Hội nghị IEEE ICC năm 2018. 

Hội nghị Quốc gia lần thứ XX về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (National Conference on Electronics, Communications and Information Technology - REV-ECIT)